Đêm uống rượu trong trướng

Học thuật
Thân thiện
Định nghĩa
  1. Danh từ:
    • Một sự kiện lịch sử bi tráng: Cụm từ "đêm uống rượu trong trướng" dùng để chỉ sự kiện đặc biệt trong đêm cuối cùng trước trận chiến quyết định của Hạng Vương (Hạng ) tại Cai Hạ, được ghi chép trong "Sử ký". Đó đêm ông thức dậy, uống rượu trong doanh trại, làm thơ bi ca (bài "Hát giời Cai Hạ") từ biệt ái thiếp Ngu cùng con ngựa yêu Chuy, thể hiện sự thất thế, nỗi bi phẫn tình cảm lưu luyến trước giờ phút sinh tử.
dụ sử dụng
  • Danh từ:
    • "Đêm uống rượu trong trướng" của Hạng một hình ảnh ám ảnh về sự sa cơ của một anh hùng. (Sự kiện "đêm uống rượu trong trướng" của Hạng một hình ảnh ám ảnh về sự thất thế của một anh hùng.)
    • Câu chuyện "đêm uống rượu trong trướng" thường được nhắc đến như một bi kịch lịch sử đầy cảm xúc. (Câu chuyện về "đêm uống rượu trong trướng" thường được nhắc đến như một bi kịch lịch sử đầy cảm xúc.)
Các cách sử dụng nâng cao
  • Dùng như một hình ảnh ẩn dụ: Cụm từ này có thể được dùng một cách ẩn dụ để chỉ khoảnh khắc độc, bi tráng của một người anh hùng hoặc một nhân vật lỗi lạc khi đối diện với thất bại không thể tránh khỏi, với nỗi buồn sự thức tỉnh về số phận.
    • Trong cuộc đời mình, ông ấy cũng đã trải qua một "đêm uống rượu trong trướng" trước khi công ty sụp đổ. (Trong cuộc đời mình, ông ấy cũng đã trải qua một khoảnh khắc bi tráng độc trước khi công ty sụp đổ.)
Biến thể từ gần giống
  • Bài ca Cai Hạ / Hát giời Cai Hạ: Tên bài thơ bi ca do Hạng Vương sáng tác trong đêm đó.
  • Biệt Ngu : Hành động từ biệt Ngu , thường đi kèm với hình ảnh "đêm uống rượu trong trướng".
  • Cảnh biệt Ngu : Cảnh tượng chia ly giữa Hạng Vương Ngu .
Từ đồng nghĩa
  • Đêm Cai Hạ: Chỉ chung đêm cuối cùng tại Cai Hạ của Hạng Vương, bao hàm cả sự kiện uống rượu, làm thơ chia ly.
  • Giờ phút bi tráng: Khoảnh khắc vừa anh hùng vừa đau thương, thường dùng để miêu tả những tình huống tương tự.
Thành ngữ liên quan
  • "Ngu , Ngu nại nhược ?": Lời than trong bài thơ của Hạng , nghĩa là "Ngu ơi, Ngu ơi, biết tính sao đây?", trở thành điển cố diễn tả nỗi bất lực, bế tắc trước cảnh ngộ.
  • "Chuy bất thệ": "Ngựa Chuy không chạy", cũng một điển cố từ bài thơ, chỉ sự thất thế, mất đi phương tiện hoặc vận may.
  1. Sử ký: Hạng Vương đóng quân trong thành Cai Hạ, binh ít tướng hết. Quân Hán chư hầu bố vây mấy vòng. Đang đêm, Hạng Vương nghe quân Hán ở 4 mặt đều hát giọng Sở liền kinh hoàng nói: "Hán đã lấy được Sở rồi sao ? sao người Sở lại đông như thế ?. Đang đêm, Hạng Vương thức dậy uống rượu trong trướng, mỹ nhân thường đi theo nàng Ngu , con ngựa thường cưỡi tên Chuy. Hạng Vương đau đớn, cảm khái làm bài thơ: "
  2. Lục bạt sơn hề khí cái thế
  3. Thời bất lợi hề Chuy bất thệ
  4. Chuy bất thệ hề khả nại ?
  5. Ngu hề, ngu hề nại nhược
  6. (Sức nhổ núi chừ khí trùm đời
  7. Thời không lợi chừ ngựa Chuy không chạy
  8. Ngựa Chuy không chạy chừ biết tính sao ?
  9. Ngu chừ Ngu , biết tính sao ?) Hạng vương ca mấy lần, mỹ nhân họa theo. Hạng vương khóc chảy nước mắt, tả hữu đều khóc theo, không ai có thể ngẩng lên nhìn
  10. Xem Hạng